Blog này là nơi CỰU HỌC SINH BÌNH LONG trước 1975 , tâm sự,thông tin liên lạc và nhớ về BÌNHLONG
doanvantiet@gmail.com
0909137208
doanvantiet | 28 January, 2012 11:57
TIN VỀ THẦY HOÀNG DẠY THỂ DỤC
Mồng Bốn Tết, cô Tuyết dự họp mặt với học sinh cũ ở nhà hàng Phong Phú, qua 1 em hs, Cô Tuyết có nói chuyện ĐT với thầy Nguyễn Chiêu Hoàng ( dạy thể dục ở Trường THBL trước 1975 ) .
Thầy NGUYỄN CHIÊU HOÀNG người Bình Dương,lên BL dạy học, dạy môn Thể Dục tại THBL trước 1972
Hiện nay thầy định cư tại Úc, về VN ăn Tết ,mồng 7 Tết lên đường.
số ĐT của Thầy Nguyễn Chiêu Hoàng : 0410313227.
Tin từ :Cô Tuyết Bình Long
doanvantiet | 27 January, 2012 11:17
Thầy PHƯƠNG người Tây Ninh ,tốt nghiệp sư phạm chuyển lên Bình Long ,dạy học và được cử làm Hiệu trưởng trường Tiểu học THANH LƯƠNG, sau chuyển về dạy ở trường tiểu học Quân đội.Thày PHƯƠNG có dạy luyện thi vào đệ thất cho nhiều hs THBL
Hiện nay Thầy bị tai biến (năm 2006) và tim mạch, phải dùng xe lăn
Hôm qua mùng 4 Tết một số HS cũ từ Bình Long và SG lên TN thăm thầy.Thầy nhớ từng HS (trí nhớ rất đặc biệt :nhớ cả phụ huynh HS,anh A con ông B,chị C con ông D,nhớ Diên Hồng con ông xu Đức,quê ở Trà Võ....)
Thầy cũng rất xúc động khi có hs tới thăm.
Địa chỉ thầy:số18 hẻm 79 đường 30 tháng 4 Hòa Thành Tây Ninh
doanvantiet | 25 January, 2012 08:00
| Nguồn gốc và Ý nghĩacác ngày Tết, Lễ, Hội Danh từ Tết
Có lẽ chữ Tết là tiếng nói trãi ( trẹ ) của chữ Tiết, Thời tiết. Số là Tổ tiên Việt tộc chúng ta sống bằng nghề nông, nên ngày đêm phải quan chiêm các hiện tượng trong vũ trụ để hiểu rõ thời tiết, hầu giúp cho các thời vụ tức là việc gieo trồng gặt hái đặng kết quả tốt đẹp. Bài Ca dao dưới đây cho chúng ta biết những hoạt động và tâm tư của Tổ tiên xưa: “Người ta đi cấy lấy công, Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề, Trông Trời, trông Đât, trông Mây, trông Mưa Trông Trăng, trông Gió, trông Ngày, trông Đêm Trông cho Chân cứng Đá mềm Trời ( Thiên ) yên, Bể ( Địa ) lặng mới yên tấm Lòng ( Nhân ) “ Đi cấy là công việc làm ăn để có thực phẩm, đó là việc cấp thiết đầu tiên, đó là nhu cầu tiên khỏi của cuộc sống. Tuy nhiên ngoài của ăn vật chất, Tổ tiên chúng ta còn có vô số cái Trông, đó là công việc Thiên văn, để hiểu được các chuyển biến trong vũ trụ, qua sự vận hành của thời tiết để giúp cho thời vụ được phong đăng hoà cốc. Cha ông chúng ta đã không dừng lại đây, mà còn trông mong nhiềư thứ khác nữa để tìm cho được những gì giúp cho con Người có đôi Chân cứng chắc hơn đá, tức là muốn đạt tới vị trí nhân chủ caơ cả trong Trời Đất, để con Người không bị Trời kéo lên, Đất đè xuống, mà luốn biết tự chủ, tự lực và tự cường. Đây không phải là con Người kiêu ngạo, coi Trời Đất bằng vung, mà là con Người biết sống tròn đầy để hoà với Tiết nhịp vũ trũ để đạt đạo nhân sinh, để cho: Trời Yên, Bể lặng và cõi Lòng Người được yên, tâm hồn an nhiên tự tại . Có hiều được thời tiết, có sống theo tiết nhịp của vũ trụ thì Lòng con Người mới yên, mới đạt hạnh phúc. Vây cái hy vọng sâu xa của Tổ tiên xưa là đạt đạo Thái hoà, để đạt hạnh phúc chân thật. Tết là một trong những sinh hoạt của Tổ tiên xưa, ngoài Tết còn có Các Lễ, các ngày Hội. Cụ Nguyễn Du đã nhắc tới trong truyện Kiều : “ Thanh minh trong Tiết ( Tết ) tháng ba Lễ là Tảo mộ, Hội là Đạp thanh . . . “ Tất cả ba sinh hoạt đó hầu như được tổ chức quanh năm vào những ngày quan trọng cũng như thời gian rảnh rổi công việc đồng áng.
Thái độ biết sống theo thời tiết là thái độ Thời Trung. Có cố gắng đi tận căn cơ của Thời gian, không hướng vào một khoảnh khắc nào, mà đi sâu vào vòng trong của Thời sinh để thông giao với ba “ Quảng “. Di vãng quy cho Địa, nói chung là Thiên Địa, tức là không nằm trong quyền lực của con Người, nên mới nói “ Mệnh hĩ phù ! Bất oán Thiên, bất vưu Nhân “, để lòng không ray rứt với những việc không thể tránh, những việc đã rồi. Còn Hiện tại thì luôn được coi là phạm vi của Tài Nhân ( một trong Tam Tài ) : Người phải làm việc tận lực, sống cho tận cùng cái Đây, Bây (Đây : Không gian; Bây : Thời gian ), tức là cái Hiện Tại miên trường bằng mọi cơ năng của con Người (Ý, Tình, Chí ), nói khác đi là thiếu Không gian và Thời gian thì không thể nói Ở Đây và Bây Giờ . Do đó chỉ có Hiện tại ta mới sống trọn vẹn được. Địa chỉ Dĩ vãng, Thiên nắm Tương lai, Nhân chủ ở Hiện tại. Tận lực ở đây và đi sâu vào Thời gian Hiện tại, để có thể tùy thời chấp nhận mọi cảnh huống, để cho bất cứ trong hoàn cảnh nào, con Người vẫn giữ được chủ quyền, làm cho đời sống trở nên hăng say, quên lo âu, quên tuổi già.
Tuy không thấy được thời gian, nhưng quan sát sự chuyển vần của thời tiết, nhận ra được Tứ thời, Bát tìết, qua các mùa Xuân, Hạ , Thu, Đông : Vạn vật qua các giai đoạn sinh, thành, suy, hủy : Cây cối vạn vật đâm chồi nảy lộc về mùa Xuân, phát triển về mùa Hạ, thoái hóa về muà Thu, và suy hủy về Muà Đông .Đây là hết một vòng tiểu diễn, chuyển qua vòng khác, và cứ thế mà xoay vần liên miên bất tận. Mặt khác muốn biết địa vị con Người trong Trời Đất trong vũ trụ hay nói khác là trong Không gian và Thời gian. Thời gian quá thân cận với con Người. quên Thời gian là quên mất Biến dịch, Biến hoá, nên Tổ tiên chúng ta đã buộc Thời vào Dịch: Dịch là Thời . Nhưng Bây rộng hơn Đây vô kể Quên Thời gian là quên mất Biến dịch, Biến hoá, nên Tổ tiên chúng ta đã buộc Thời vào Dịch: Dịch là Thời .
Trước kia người ta quan niệm Không gian và Thời gian là hai thực thể tuyệt đối đứng ngoài sự vật. Nhưng đến Einstein thì những quan niệm Thời Không như những gì tuyệt đối bị hoàn tàn sụp đổ. Ta đưa một thí dụ đơn sơ trong rất nhiều thí nghiệm để giúp có ý niệm khái quát về Tương đối thuyết: Anh A ngồi trên toa giữa một xe lửa dài chạy cực mau. Khi đi qua chỗ anh B đứng dưới đường tiếng nổ phát ờ đầu và cuối tàu . Hai tiếng nổ đó xẩy ra đồng thời với anh B đứng dưới đường, còn anh A thì lại nghe tiếng nổ đàng đầu, trước tiếng nổ đàng cuối. Như vậy không còn đồng thời Tuyệt đối, mà chỉ có thứ đống thời Tương đối với người quan sát liên hệ mật thiết với Bao Giờ và Ở Đâu, theo hệ thống quy chiếu nào. Như vậy thì Trên Dưới, Trước Sau, Tả Hữu cũng hết giá trị tuyệt đối. Cái bên Tả của Tôi trở thành bên Hữu của người đối diện, cái “ Trên “ ban ngày trở thành cái “ Dưới ‘ ban đêm . Như vậy không thể lấy Trên Dưới, Tả Hữu . . . làm tiêu điểm tuyệt đôi nữa. Thuyết Tương đối còn đưa đến sự thay đổi quan niệm về cơ cấu vật chất. Trước kia vật chất được quan niệm như im lìm, nay Vật chất có thể đổi ra Năng lượng. Vật chất có thể đổi ra Năng lượng theo phương trình : E = mc2 ( E : năng lương; m : khối lượng vật chất; c : tốc độ ánh sáng với 300.000 km/sec ) . Như vậy vật chất và ánh sáng tựu trung là một, như vậy là xóa bỏ sự phân cách một cách tuyệt đối giữa Vật chất và Năng lượng, và sẽ dẫn tới xóa bỏ quan niệm tuyệt đối giữa Vật chất và Tinh thần . Chân lý trên giúp con Người nhìn thấy dưới muôn vàn sai biệt, có một mối tương quan rất mật thiết giữa vạn vật, và dẫn tới ý niệm trong Tưong đối thuyết là : Vạn vật trong vũ trụ đều tạo nên bởi một mô nền tảng ( tissue fundamental ) , không phải vật chất hay vi thể ( particles ), mà chính là Không - Thời- Liên ( Space- Time- Continuum ) . Thời gian không còn đứng ngoài sự vật. Thời gian và Không gian như hai mạng lưới đan kết với nhau tạo nên vạn vật. Thời gian trở thành chiều kích thứ tư ( Không gian có 3 chiếu ) “ Một cách chủ quan, Thời gian có tính chất như lưu chất, nó giống như dòng suối chảy, khi thì chảy xiết tuôn trào, khi thì lướt trôi im lặng, đôi khi chảy lừ đừ chậm chạp, và hầu như đứng yên trong hồ sâu; Còn Không gian có tính chất hiện diện khắp mọi nơi cùng một lúc, ( vô bổn phiêu giả, vô hồ xứ giả ), tính chất mà khái niệm chung thường hìểu lầm là của những vật cách biệt “ ( The dancing of Wu Li Master . p. 148, 149 ) Sự vật chỉ là những hình thái ( dị biệt ), cong, méo, tròn, dẹp và sự biến động theo những định hướng của Không - Thời – Liên. Tất cả vũ trụ đều thế, kể cả con Người đều gắn bó nhau bằng những loại trường như lực hấp dẫn, từ điện và hạt nhân ( champ gravitationel, électromagnétique et nucléaire ) . Do đó bất cứ một động tác nào cũng phân trương ra khắp thiên cầu tuy càng xa càng nhỏ, nhưng vẫn còn, y như ném một hòn sỏi xuống ao, làm cho gợn lên những vòng sóng nước, trước nhỏ sau to, càng to càng tan dần và lan tỏa cùng ao. Không - Thời – Liên chính là đại dương, còn vạn vật là những làn sóng nhấp nhô, tuy dị biệt nhưng nền sóng là một. Các thứ trường gần giống quan niệm Kinh Dịch làm bằng các ý niệm Tương Sinh, Tương Tức, Tương Thấu, Tương Nhập, Tương Duyên. Các Trường của Tương đối thuyết với các Tương của Kinh Dịch giống nhau rất nhiều ở Hình Nhi hạ.
Khi nghiên cứu về Thiên văn, người xưa đã viết nên Lịch số. Có lẽ không đâu bằng Lịch số cho chúng ta quan niệm về Thời Không Đông Tây khác nhau. Lịch là một thể chế quan trọng nơi các dân tộc cổ đại, nó thường đi liền với các Tôn giáo để làm nhịp cho cuộc sống, bằng cách quy định những ngày Hội Hè, Lễ Lạy trong năm . Nhất là Viễn Đông, quê hương của nền văn hoá Nông nghiệp, là văn hoá chú ý đến Lịch như nhịp sống. Vì thế, mà nền triết lý của nó lấy Thái Hòa làm chỗ đạt đạo tức là Người sống hợp với Trời Đất. Lịch bao giờ cũng đi đôi với Thiên văn, nhằm mục đích đo lường Thời gian, nói đến Lịch là nói đến số độ trên đường diễn tiến vận hành của Thời Khắc ( Lịch là trải qua ).
1.- Hai yếu tố then chốt : a.- Quảng thời gian một năm b.- Khởi điểm của một năm 2.- Động cơ thúc đẩy : a.- Thuộc Tôn giáo : Quy định các ngày Lễ b.- Nhân vi ích dụng : để đáp ứng việc ăn làm trồng tỉa thu gặt, quy định giời giấc tuần phòng . c.- Thuộc nhâ sinh là ngắm đường vận hành của Thiên tượng để hành Đạo.
Quảng thời gian một Năm cùng ngày đầu Lập Xuân, nó liên hệ với nhau cũng như với Thiên thể dùng làm căn cứ. Thiên thể là mặt Trăng, mặt Trời, các Sao ( Tú Thần ) 1.- Nếu dùng mặt Trăng để đo quảng Năm thì tiện, vì tháng theo tuần Trăng rất rõ ràng, thường là 28 ngày. Nhưng dùng Trăng để đo Năm rất dở, vì chỉ sau 3, 4 năm đã thiếu mất một tháng, nên sinh ra nhiều rắc rối. 2.- Tiến lên một bậc nữa là dung mặt Trời để đo quảng Năm, gọi là duy Dương. Lịch duy Dương có cái bất lợi là hy sinh mặt Trăng, đến ngày Rằm Trăng không tròn, nhưng khoảng Năm trúng hơn, độ 360 ngày, tức thiếu 5 ngày . 3.-Nếu gọi Lịch Tây là duy Đương, thì Lịch Viễn Đông là Âm Dương Lịch, vì căn cứ cả mặt Trăng và mặt Trời . Đại khái phương pháp y cứ trên những sao xung quanh Bắc Cực gọi là vòng Dịch Chu thiên ( Need I I . 351 ), tức là quảng trong vòng 30 độ tính từ sao Bắc Đẩu trở ra, rồi chia ra 4 cung, mỗi cung hợp với 1 ngôi sao đứng chủ. Trong Nghiêu Điển là : Điểu, Hỏa, Hư, Mão, đi với 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông . Lấy đuôi sao Đại Hùng làm như kim đồng hồ mà tính giờ . Rồi từ 4 cung Bắc Cực đó mở rộng ra cả năm, lấy 4 cung làm đích điểm cho 4 mùa. Hai mùa Đông, Hạ theo mặt Trời, còn hai mùa Xuân, Thu theo hệ thống mặt Trăng. Hệ thống này còn định vị trí cho 7 ngôi sao chính, tức là Nhật Nguyệt và 5 sao tượng Ngũ hành ( Mộc, Hỏa, Kim, Thủy , Thổ ) . Hệ thống này không những quy định được quảng Năm, nhưng cả quảng Tháng, quảng Ngày và Giờ. Quách Thủ Kính đời Tổng so sánh trước sau và xác định quảng Năm là 365 ngày, 5 giờ , 49 phút, 12 giây. Theo Thiên văn hiện đại thì quảng Năm là 365 ngày, 5 giờ, 48 phút và 4/10 giây. Lịch pháp Viễn Đông nói lên hai đặc tính Nhân Chủ và Nội Tâm. Chất Nhân chủ biểu lộ trong lối điều hòa Nhật- Nguyệt- Tinh thần, dễ gây nên sự hoà hợp, được biểu lộ qua Trăng Sao, làm thế nào đến Rằm thì Trăng tròn, Mùa đi đúng Tiết. Vì Hòa là đặc điểm của con Người ( Thiên sinh, Địa dưỡng, Nhân hoà ). Nhờ sự hòa hợp đó mà Nhật - Nguyệt- Tinh thần đều giữ được sắc thái riêng với chức vụ riêng . Nhật coi vòng Năm, Nguyệt coi vòng Tháng, Tinh Thần coi vòng Giờ, và cả ba liên đới coi vòng năm. Phương pháp của Thiên Nghiêu điển trong Kinh Thi là lấy ngày Xuân phân, Thu phân, Hạ chí và Đông chí vào 6 giờ chiều, lúc mặt trời lặn, xem ngôi sao nào mọc ở phía Nam , mà quy định thời tiết một năm . Như vậy ta mới xác định được ngày đầu của một Năm cho hợp với Thời tiết. Xác định đưọc ngày Tết Nguyên đán là ngày đầu của Năm là chuyện thật Khó khăn và phức tạp, nhưng là rất quan trọng. Tết Nguyên đán là ngày quan trọng nhất, nhưng quanh năm chúng ta còn có rất nhiều ngày Tết. Tổ tiên chúng ta cho muà Xuân và mùa Thu là hai mùa rất quan trọng. Mùa Xuân và Thu ngày đêm dài bằng nhau ( Thuôc Nhân ), Mùa Hạ ngày dài hơn đêm ( thuộc Thiên ), còn mùa Đông thì đêm dài hơn ngày ( Thuộc Địa ). Do đó mà Lễ Gia tiên (tục cúng Ông Bà ) là Lễ quan trọng nhất, đó là Lễ thờ Nhân tính, thờ phẩm cách con Người, thường tổ chức vào Xuân Thu nhị kỳ.
“Thanh minh trong Tiết ( Tết ) tháng ba Lễ là Tảo mộ, Hội là Đạp Thanh. . “ ( Kiều ) Theo lịch Đông phương thì cứ 15 ngày là một Tiết, khi qua Tiết khác, thì khí hậu thường thay đổi . Tháng ba là Tiết Thanh Minh, là dịp để thăm viếng và để làm Lễ tảo mộ hầu tỏ lòng tôn kính và biết ơn những người quá cố, đó là nguồn gốc của con người, đó là hoạt động tâm linh, còn Đạp thanh là Hội để trai gái vui chơi trao đổi tình cảm, khi ưng ý nhau thì hợp thân trên bại cỏ xanh, đây là cái nôi un đúc tình người.( Theo tục hát Trống Quân ) Tết, Lễ, Hội la 3 sinh hoạt của tộc Việt để sống hòa với Vũ trụ. Tất cả đều có mục đích là đáp ứng ba nhu cầu thâm sâu của Con Người, Nho giáo đã công thức hoá thành câu : Thực, Sắc, Diện: Thiên Tính dã. Nói theo nghĩa rộng vòng ngoài thì Nho lả nhu nhã, lịch thiệp, êm đềm.( Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo ) Còn theo nghĩa căn để Nho, ( Nhu ) là Nhu yếu thâm sâu của con người, mà Nho đã chỉ ra đường lối đáp ứng . Ta thử hỏi con người cần có bao nhiêu nhu yếu cần nuôi dưỡng? Thưa có 3 nhu yếu : ăn uống, ái tình và thể diện , như trên Trống Đống : vòng ngoài thuộc ăn uống,vòng giữa ái tình ( tam giác gốc ), vòng trong cùng là thể diễn ( mặt trời ) . Thực là ăn uống cần thiết để duy trì đời sống cá nhân . Sắc (ái tình ) để un đúc tình người và để đi đến việc truyền sinh cần thiết cho giống nòi . Diện ( thể diện ) là óc tự tôn tự trọng, nó biểu thị cho chiều kích vô biên cao cả của con người Đại Ngã Tâm Linh . Nhu yếu cho con người thì có nhiều, nhưng hết mọi nhu yếu không ra ngoài ba mối đó .
“ Thực là ăn, chẳng ai mà không biết là nhu yếu đầu tiên của con Người, Cha ông chúng ta đã chẳng nói : “ Có thực mới vực được Đạo “. Thực quan trọng lắm, nếu không hơn Đạo cũng đi trước Đạo, thế mà các nền triết lý và đức lý không thèm để ý tới.
Chính sự bỏ qua này nảy ra hai cái hại : Cái hại do bái vật : Người ta đi cầu nguồn sống ở trăng sao, sông ngòi rồi giết người để tế thiên tượng ấy do niềm tin cần phải nuôi dưỡng nguồn sống, thí dụ mặt trời cần nuôi bằng máu của người . Vì tin rằng nếu để mặt trời đói mình cũng chết theo. Chính niềm tin này gây ra những trang sử rùng rợn trong cổ sử nhân loại . Cái hại này là cai hại giết người vì niềm tin sai lạc. Cái hại do sự bất quân phân tài sản : Sau khi đã biết tìm nguồn sống một cách thiết thực ngay trong sản vật trên đất, thì lại sinh ra nạn bất quân phân tài sản do các nền triết lý hoặc đặt nguyên lý sai lạc, thí dụ đặt quyền tuyệt đối về tư sản ( quyền tư hữu tuyệt đối ) nên dẫn đến cảnh chênh lệch quá đáng : “ kẻ ăn không hết, ngưới lần không ra “, hay nói theo cách ngày nay thì cứ 2 người tư bản thì đến 8 người là vô sản. Tình trạng chênh lệch đó đã phát xuất sự thiếu giáo dục đầu tiên nên gây ra cảnh “Đấu tranh giữa Tư bản vả Vô sản “ gây ra đầy bất an trong hiện tại . Trong các nền triết lớn chỉ có Việt Nho đã thiết lập nổi chế độ Bình sản ( công điền công thổ ) để mọi người có thể no đấy. Tuy còn nhiều khuyết điểm nhưng xét về ý tưởng then chốt và thể chế kể đã thiết lập và bênh vực thể chế quân phân đồng đều không cần phải cách mạng đẩm máu . Chế độ công điền công thổ là phương cách tài tính để điều hoà giữa quyền tư hữu và công hữu. Chế độ cộng sản đã hô hào công nông đoàn kết lại để thực hiện cuộc đấu tranh giai cấp để tước đoạt quyền tư hữu của nhân dân, họ cho rằng chính quyền tư hữu là đấu mối cho mọi sự bất công trong xã hội. Nhưng khốn nỗi khi không có tư hữu thì con người bị giáng xuống hàng súc vật. Hiện nay về việc quân phân tài sản thì bất cứ nền đức lý hay triết học nào cũng đều nói đến, nhưng xét cho cùng toàn ở đợt ý từ như nói theo đuôi, hoặc nói theo lương tri, không phải do tự cơ cấu nến tảng. Nếu do nền tảng tất đã trù liệu từ lâu ít ra từ vài chục thế kỷ, chứ mãi nay mới nói đến là do tình trạng khẩn trương đập vào mắt, có nói cũng ít hiệu quả, hay là đi quá đáng để cho chú ý dồn trọn vào có miếng ăn, đến nỗi trở nên đui mù không còn thấy những nhu yếu thâm sâu hơn, cao cả hơn nơi người. Ta thấy nhu yếu sơ đảng không giải quyết xong thì nẩy sinh biết bao nhiêu tai hoạ.” ( Kim Định : Sứ điệp Trống Đồng )
Ăn là nhu cầu đầu tiên để nuôi sống xác thân, điều quan trọng là ăn như thế nào để cho có một thể chất tráng kiện. Đó là việc phải làm thế nào để cho đồ ăn được ngon và lành . Đồ ăn ngon là đồ ăn thích khẩu, có cảm thấy ngon thì dịch vị mới tiết ra nhiều để tiêu hoá đồ ăn, giúp đồ ăn biến thành đủ chất bổ dưỡng, nhưng khi ngon quá lại thường quá chén, thói quen đó lâu ngày làm cho cơ thể mập phì Cha ông chúng ta đã bảo : “Đẹp vàng son, ngon mật mỡ “ Muốn có đồ ăn ngon thì không thể không dùng đến mật mỡ ( chất ngọt và chất béo ), vì thế mà việc ăn đồ ngon quá nhiều thường sinh ra bệnh tật. Người Mỹ đã có hơn 60 % bị quá tải vì quá chén, sự quá mập phì sinh ra nhiêu bệnh nan y Đồ ăn lành là những đồ ăn dễ tiêu như các loại rau cỏ, có nhiều chất xơ. Những thứ đồ ăn này giúp cho sự tiêu hoá được dễ dàng. Lời cảnh cáo “ Cơm không rau như đau không thuốc “ khuyên ta bữa ăn nào cũng phải có rau . Nhờ có chất xơ của rau giúp cho các đồ ăn ngon như các thứ thịt tiêu hoá được dễ dàng. Khi tuổi trẻ là tuổi đang phát triển thì có thể dùng đồ ăn “ ngon lành “, nhưng đối với những người già thì phải đảo ngược lại là đồ ăn phải “ lành ngon “, vì lúc này sự tiêu hóa đã kém đi. Đồ ăn ngon thì ít lành, mà đồ ăn lành lại kém ngon, cho nên phải ăn uống làm sao cho điều hoà được hai yếu tố đó, việc điều hòa này tuỳ theo từng người . Cha ông chúng ta còn căn dặn : “ cơm 3 bát, áo 3 manh “, nghĩa là phài tiết độ trong việc ăn uống , vì “ Tham thực cực thân “ Thăm ăn thì làm hại dạ dày, “ăn no tức bụng “, ngoài việc dễ sinh ra bệnh tật, thói tham ăn còn làm mất nhân cách nữa. Ngon và lành có thể coi như hai đối cực cần phải được quân bình ( theo Dịch lý ) để giữ cho việc ăn uống giúp cho cơ thể luôn được khỏe mạnh. Để cho đưọc khoái khẩu và có đủ chất bổ dưỡng mà vẫn giữ được tính chất lành, các bà nội trợ của chúng ta rất chịu khó chế biến nhiều món ăn thật công phu và gia vị thật khéo léo. Trên mâm cơm bao giờ cũng có nhiều món, nào thịt cá canh rau, dưa cà mắm muối . . . mỗi ngày mỗi đổi món . Đồ ăn tuy không phải là thứ cao lương mỹ vị nhưng rất khoái khẩu mà lành. Còn như người Âu Tây, thì mổi người ăn một đĩa riêng cho tiện, vỏn vẹn có một vài món, mà phần lớn là những đồ ăn thật bổ được tính bằng calories như nhiều thứ thịt, là những thứ khó tiêu, rất dễ mâp phì. Có thể họ là những người theo văn hoá du mục, nên ăn nhiều thịt, còn người Á Đông theo văn hoá nông nghiệp thường dùng nhiều rau cỏ hơn.
Ngoài việc nấu các món ăn cho hội đủ hai yếu tố ngon và lành, khi nấu ra phải bày ra trong các đĩa thức ăn cho có mỹ thuật, khi các đĩa thức ăn được bày ra trên mân cơm hay bàn ăn cũng phải trang trí làm sao cho được đẹp mắt dễ coi. Cái bàn ăn, cái mâm, các chén đĩa đũa bát đều phải sạch sẽ tươm tất, làm sao khi mâm bàn được dọn ra có thể xem như một bức tranh. Khi nhìn vào mâm cơm ta có thể thưởng ngoạn được tác phẩm nghệ thuật của từng bà nội trợ Việt Nam. Khi ngối vào mâm cơm, tuy chưa ăn, nhưng dịch vị, nước miếng tiết ra tràn đầy. Ngày nay, bất cứ ta ở đâu trong hay ngoài nước, ở phương Đông hay phương Tây, nơi nào có cộng đồng người Việt, ta cứ vào trong các tiệm ăn hay trong các tiệm bán thực phẩm mang về ( food to go ) thì ta có dịp thưởng ngoạn được cái khéo tay và tài chế biến của các bà nột trợ Việt. Ngoài không biết bao nhiêu là thứ thức ăn, thức ăn mặn, thức ăn chay , thức nào cũng hấp dẫn, khi ngồi vào bàn gọi thức ăn, ta không biết gọi thứ nào cho thoả ý.
“ Có thực mới vực được Đạo “ . Đạo đây là đạo sống, đạo làm người: Các bữa ăn trong gia đình giữa cha mẹ và con cháu không những chỉ là ăn uống không, mà là những lúcđể thi hành chữ Lễ và chữ Nhân. Lễ là trọng mình và trọng người, đây là lúc để con cháu cũng như cha mẹ ông bà thi lễ với nhau . Trước khi ăn thì cha mẹ lo bày dọn mâm cơm, còn con cháu mời mọc người trên một cách kính cẩn, chỗ ngồi cũng được phân định thứ bậc rõ ràng, người già và trẻ em được ưu đãi hơn . Khi ăn cũng ăn uống một cách từ tốn, cũng lưu ý chia sẻ với nhau để biểu tỏ tình cảm. Cha ông chúng ta đã huyên “ăn xem nồi, ngồi xem hướng “ là thế . Trong bữa ăn có khi sau bữa ăn là những buổi trao đổi trò chuyện giữa cha mẹ và con cháu đề chia sẻ những niềm vui, những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, làm cho mối tình liên kết giữa ông bà và cha mẹ với con cái ngày càng khăng khít hơn. Vì thế cho nên lơ là hay bỏ bữa ăn trong gia đình là dần dần đánh mất đạo lý của cha ông tổ tiên. Những bữa ăn có khách là dịp để biểu tỏ tình cảm một cách nồng thắm. Ngoài việc thù tiếp trà nước đàng hoàng lại cố sức thết đãi thực phẩm hết sức thân tình. “ Khách đến nhà không gà thì vịt “, gà vịt là cao lương mỹ vị ở nông thôn, chỉ khi nào có giổ kỵ hay có khách mới đụng tới . Từ khi sửa soạn bữa ăn cho thịnh soạn, đến lúc ngồi vào bàn ăn là nhũng lúc thi lễ để thể hiện lòng quý trọng nhau . Chủ nhà lấy việc tiếp đãi làm niềm vui và vinh hạnh của mình đối với khách. Trong các dịp kỵ giổ Tổ tiên, Tết Chạp cũng như hội hé đình đám trong xóm làng, bao giờ cũng có việc tế lễ để tõ lòng thánh kính và biết ơn ông bà tổ tiên, Thành hoàng . Sau đó là tiệc tùng ăn uống linh đình. Tiếp đến nhiêù khi có những cuộc vui cho mọi người dân, cũng như là dịp để cho trai gái được dịp vui chơi và tỏ tình với nhau. Trong tất cả các dịp trên ăn bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thi Lễ và trao đổi tình cảm với nhau (đức Nhân ) . Nhở thế mà mối giao hoà giữa mọi thành phần trong gia đình, trong làng xóm được un đúc và bồi dưỡng. Việc tế lễ tổ tiên cũng như Thành Hoàng cũng như ăn uống tiệc tùng sau đó quả là một lối tham thông của Thiên Địa Nhân.
Sắc hay sắc dục, tính dục cũng lại quan trọng không kém. Ăn để bảo tồn đời sống cá nhân, còn tính dục để bảo tôn chính giống nòi, nên còn quan trọng hơn nữa. Sắc dục là thiên tính là mệnh lệnh tự Trời ban ra, bao lâu con người còn sống gần bản năng đều biết coi trọng . Vì thế ở thời xa xưa trong thân thể con người không có gì được thờ ngoài cơ quan sinh dục “ cả dương lẫn âm, cả linga lẫn yoni . Về sau vì lý do tư sản được tăng cường do bái vật mà sinh ra các nền đức lý hạ bệ việc truyền sinh coi là xấu xa, đàn bà được coi như cái gì nguy hiểm với biết bao kiêng kỵ, thoạt nhìn tưởng là cao thượng lắm, nhưng nghiên cứu lịch sử văn hoá loài người thấu đáo mới nhận ra những lý do cấm kỵ đều phat xuất từ tai hoạ chuyên chế đề cao uy quyền đặt trên sự vâng phục của kẻ bị trị. Muốn nuôi dưỡng tinh thần phục tùng cần làm sao cho con người cảm thấy mình hèn hạ. Vậy khi đặt ra những kiêng kỵ chống truyền sinh thì hầu hết con người bị vấp phạm. Vì bản năng con người lành mạnh là phải hướng tới truyền sinh, đó la thúc bách thuộc về thiên mệnh, tại sao chống? Nếu không hiểu luật trời đất âm dương lại dồn sức chống cự quá đáng sẽ phát ra những bệnh thần kinh hay những trái chứng khác. Vì thế dễ có sự lỗi phạm, đã lỗi phạm tất đâm ra hổ ngươi thấy mình hèn. Đó là cảm thức dọn tâm hồn để suy phục quyền bính trọn vẹn hơn, nói được những cấm kỵ là con đẻ của chế độ chuyên chế. Sự kiêng kỵ này chỉ kích thích đánh trúng lòng tham lam, lòng ham muốn chiếm đoạt. Đại biểu Tần Thuỷ Hoàng cũng chay tịnh kiêng khem bên ngoài thì để đạt trường sinh, nhưng mặt khác là thu tuyển nhũng 3000 phi tần cung nữ. Còn những đệ tử về sau thì theo đường lối “năm thê bảy thiếp, chồng chúa vợ tôi “ . Chính sự tham lam trá hình này đã làm nảy sinh những nền đức lý thanh giáo với những mệnh lệnh trái ngược với bản năng sinh sống, đưa đến mất quân bình tâm trí, do sự dồn ép bản năng dục tính. Nền đức lý thanh giáo tạo cho loài người: thay vì giáo dục lại đi giáo ngụy tạo, đậy che làm hư hỏng ( pervertir ) . Việt Nho tránh được lỗi lầm trầm trọng đó bằng cách đưa ra thuyết âm dương hoà, nhờ đó dã góp công tài bồi vun tưới cho các tác động truyền sinh vẫn được coi như việc thường tình nhằm tránh những quá đáng bằng cách mặc cho những việc đó có vẻ đẹp như hoa ( hoa tình ) trong lễ hội. Về điểm này Việt phóng khoáng hơn Nho, vì Nho đã bị thanh giáo Bắc phương chi phối. Tuy vậy Nho vẫn trúng đường, vì đã công thức hoá việc hát cặp đôi thành hai phạm trù đồ sộ là âm dương, dùng làm nền tảng văn hoá . Trong kinh Dịch phần đầu nói về Trời Đất , phần hai nói về Vợ Chồng ( Người ) với hai quẻ Hàm, Hằng . Do đó việc ái ân trở thành chiếc cầu cho cá nhân bước sang tha nhân để ra khỏi óc duy ngã bước vào công thể đầu tiên là cặp trai gái yêu đương, yêu bằng cả tâm hồn lẫn thân xác, yêu đến độ chí mật. Sự yêu đương không đặt đúng nguyên lý cũng như cũng như không được tuần tự huấn luyện từ cấp bé tới lớn rộng từ việc yêu thương giữa đôi trai gái qua việc đối xử với thân nhân trong gia đình, rồi lớn rộng hơn là xã hội. Chính trong ý đó mà Việt Nho đã đưa việc truyền sinh vào sách Kinh Thi cũng như ca dao nước ta đầy tràn những lời trao đổi yêu đương, gạ hỏi hò hẹn cách hồn nhiên vô tội, làm nên bầu khí văn hoá thuận lợi cho việc truyền sinh mà lòng không vương mảy may cảm tưởng tội lỗi. Có thể nói rằng đây là triết lý nhân sinh vì đã không thoá mạ nguòn gốc sự sống của con người. Chủng tộc Việt sống theo nguyên lý Mẹ là một chủng tộc rất giàu tình cảm, những tình cảm yêu đương trai gái rất phóng khoáng, nhưng vẫn giữ tròn lễ nghĩa, chứ không như thanh giáo Bắc phương, bày ra nhiều trò cấm kỵ cũng như những lễ lạt phiến phức. Họ cho những kiểu sống tình cảm như thế là dâm bôn!
Diện cũng là thể diện, hai chữ này thường được hiểu là sự tự trọng, nhưng nghĩa triết lý của nó sâu hơn nhiều, đó là diện của thể hay là mặt ngoài của cái thể chất căn bản con người Đại ngã. Chữ diện có nghĩa vòng ngoài, cái mặt, còn thể là vờng trong rất sâu xa rộng lớn không còn bờ cõi, gọi tắt là Trống, là Không, mà cụ thể là nó biểu lộ ra trong sự khát vọng Tự do là đầu, rồi các nhu yếu khác như khát vọng được kính nể, được yêu thương cũng như những tình cảm về chân, thiện, mỹ. . . cũng có nghĩa là cái mặt, vì đó là nơi thê hiện rõ nhất cái thể vô biên con người. Khi nói thể diện phải hiểu cả hai nghĩa, nhưng ở đây có ý nói đến cái nghĩa thứ hai nhiều hơn, Việt Nho gọi là Sỉ ( biêt xấu hổ mà sửa đổi nết hư lại ) có thể dịch là óc tự trọng cần được tài bồi phát huy. Với Việt Nho đây là đức tính nền tảng nhất làm nên con người vì nó phát xuất từ sự cảm nhận được chiều kích vô biên nơi người, cho nên con người có giá trị nhiều hay ít là do ở chỗ biết tự trọng nhiều hay ít, cũng như con người sống với nhau có tốt đẹp, xã hội có ổn định chăng cũng là do trình độ cảm nhận cao thấp của đức này. Đức này giúp tự trọng mình rồi trọng tha nhân, đó là nền tảng vững nhất của xã hội, bời chưng tự trọng làm nên xương sống con người. Thể diện còn cao hơn hai bản năng trên, vì nó căn để hơn, nên tế vi hơn, phát xuất từ vô biên mà con người nào cũng mang trong mình. Đó là cái gì linh thiêng tôn quý vô cùng. Chính nó làm cho con người cảm thấy nhu yếu cần được tôn trọng cũng như được Tự do cách mạnh liệt . Đấy là sự đói khát chân chính hơn hết cần được thoả mãn , chính khát vọng đó làm nền tảng cho phẩm giá con người, làm cho con người thông với đại ngã tâm linh cao cả, nên ý thức được rằng mình đã đủ lý do tòn tại ngay nơi mình. Sự tôn trọng đó phải khởi đầu ngay tại chính mình, nếu mình còn chưa tôn trọng mình thì ai mà làm thế cho mình được. Hầu hết các nền văn hoá không nhận ra nhu yếu này mà giáo: thay vì chỉ dẫn cho con người tài bồi vun tưới đức tự trọng, lại làm hết cách cho nó tin mình là hèn hạ như nô lệ, đến nỗi mối liên hệ giữa người với người bị giản lược vào có một chiều kích duy nhất là chủ nô, tức coi tha nhân như sự vật, chỉ là cái nọ cái kia ( I and that ). Tuy nay chế độ nô lệ đã lỗi thời nhưng hầu hết các nền giáo dục vẫn còn dạy con người khinh mình, coi mình hèn hạ. Tưởng thế là dạy cho nó đức tự hạ , kỳ tực là huấn luyện cho nó kiêu căng một cách bệnh hoạn. Những lối bất chính như kiêu thái xì xằng, lên mặt, huênh hoang khoe mẽ; hoặc như nói xấu, bỏ vạ dèm pha để cố hạ tha nhân cho mình được lên cao; hoặc ganh tỵ do lầm tưởng mình bị đè ép bới những thành công của kẻ khác; lòng tham danh tiếng , nhất là ý chí hùng cường . Những tật xấu đó chính là những chứng bệnh đã phát xuất từ sự đói khát kính trọng không được đáp ứng , nên đi tìm thỏa mãn bằng bất cứ cách nào, nhưng tất cả đều phát xuất từ sự thiếu tài bồi nhu yếu tự tôn trọng nhân phẩm mà ra . Việt Nho đã đáp ứng nhu yếu này một cách nền tảng. Trước hết bằng thuyết Tam tài, đặt con Người ngang hàng cùng Trời Đất. Đây là thuyết đưa con Ngưòi lên địa vị cao nhất chưa có thuyết nào bằng : với tuyết Tam tài , Người cũng là vua như Trời Đất quen gọi là Thiên hoàng , Địa hoàng, Nhân hoàng . Con Người đã đạt được vị thế Nhân chủ của mình, có thế mới tiếp tục được công việc sáng tạo của Trời Đất. Đây là vị thế rất thuận lợi cho sự phát triển chiều kích cao cả của con Người . Nho đã tiếp tục bầu khí đó cách cụ thể và thực tế bằng cách đưa vào các mối nhân luân một nét cao cả là chữ Lễ . Chữ Lễ ( 礼 ) viết với bộ kỳ ( 示 : 2/3 ) bao hàm linh thiêng , nên ở các văn hoá khác Lễ chỉ dành riêng cho thần minh . Nay Việt Nho đem áp dụng cho con Người để coi con Người như thần minh ( homo homini deus ). Trong Việt Nho thay vì vua thần thì là nhân thần, nhân chủ . Vậy nên bước hiện thực sự tự trọng cũng như tha nhân là chữ Lễ. Chữ Lễ nói lên tính chất linh thiêng trong việc giao tế, nó chỉ rõ hai bên thừa nhận chiều kích siêu linh của nhau , của mọi người, nên người nào cũng đáng kính tôn, như thế tạo được khiêm cung, khiêm nhượng thực sự. Chữ này bao hàm đức tụ trọng, biết mình gồm cả đức Trời nữa, chứ không chỉ có đức Đất, đồng thời biết người khác cũng cao cả như vậy, nên có sự tương nhượng. Chính nhờ lẽ đó mà xã hội Việt Nho đề cao đức nhân nhượng thay cho lối “ tranh đấu để sinh tồn “, đó là thói quen của loài thú chưa đạt tâm thức đủ cao để nhận ra chiều kích tâm linh nơi chúng, nên chúng phải dùng đến sức mạnh bạo tàn: tác động dồn vào việc tranh ăn, tranh mái; con người trái lại bao gồm những tầng cao hơn nữa nên có nhiều tác động khác vượt trên sự ăn uống, tính dục, trong đó phải kể trước hết là lòng khát vọng được kính nể, cũng như tự do, suy tư, cảm nghĩ, bày tỏ ý kiến. . . Đó là những việc biểu lộ chiều kích vô biên hơn hết. Ví thế một nền triết lý chân thực bao giờ cũng phải coi trọng việc kính tha nhân, cả lời nói, tư tưởng, cảm xúc của tha nhân. Muốn làm cho cái diện của mình có vẻ sáng đẹp cao cả thì phải vun xới cái thể Chân, Thiện, Mỹ của mình, bằng cách đi vào con đường tâm linh : đó là “ An thổ, đôn hồ nhân, cố năng ái “ : ngồi yên lặng, quên sự đời, mà đôn hậu cái Tình Người. Đó là đại để ba nhu yếu khần thiêt đáp ứng những nguyện vọng thâm sâu của con người . Không ai có thể bỏ quên những nhu yếu trên, đó là yếu tính do thiên phú bẩm cho. Đây là triết lý nhân sinh giúp giải quyết những vấn đề thiết thân của con người để cho mọi người nơi đây và bây giờ bắt đầu xây dựng cuộc sống an hoà hạnh phúc.
( Địa vực lễ lạy : Nguồn gốc văn minh : Triết lý cái Ðình : Kim Ðịnh )Điều đặc biệt là địa vực một số lễ được coi như ấn tích của tác giả văn minh. Nếu văn minh là nông nghiệp mà nội dung các lễ cũng là nông nghiệp thì ở đâu mừng lễ đó tức đấy là chủ khởi sáng ra nền văn minh. Tính chất các lễ nông nghiệp là đi sát thiên nhiên như mùa gặt mùa cấy, hoặc những hiện tượng thiên nhiên như ngày trùng ngũ mừng mặt trời vào cung ngọ. Nói chung là các lễ này hướng nhiều đến sự sống, và gọi là Tết: Tết Nguyên đán Tết Đoan ngọ Tết Trung thu. Có lẽ ý nghĩa chữ Tết là một lối đọc chữ Tiết, hiểu là tiết nhịp uyên nguyên mà mọi tác động đều nhịp theo thì mới đạt cảnh thái hòa “ phác nhi giai trúng. Tiết vị chi hóa “ (D.T). Theo Tiết là những nhịp sống cao độ mà mọi cơ năng đều cố vươn lên cực điểm để cùng nhịp theo với tiết điệu thiên nhiên. Vì thế mà có những cuộc vui, tưng bừng ăn uống đình đám kèm theo nói lên sự sống tràn ngập. Văn minh nông nghiệp đặt nền trên “ sinh sinh “ nên chú ý nhiều về sống hơn về chết như lễ Thanh minh, lễ các vong hồn là những lễ không được chú ý lắm và phần nhiều mang nặng ảnh hưởng Phật giáo. Chúng ta chú ý đến ba cái Tết (Lễ sống). Tìm hiểu nơi phát xuất của cái Tết với những biến dạng của nó xuyên qua các đời và hiện nay còn những đâu giữ nhiều nhất v.v… thì đấy là việc dài hơi của một nhóm nghiên cứu và thuộc về văn học xã hội hay cổ tục học. Ở đây chúng tôi không bàn kỹ về các lễ mà chỉ nhằm ghi lại ít nét thuộc địa vực phát xuất hoặc duy trì. ( Trong việc này chúng tôi có nhờ đến tài liệu của một số học giả trong đó phải kể tới quyển Chinese Festivals của giáo sư Wolfram Eberhard (Henry Schuman 1952 N.Y). Tác giả đã tốt nghiệp về triết học, xã hội và Nho học năm 1931. Năm 1933 được hội Baessler cấp học bổng cho sang Tàu nghiên cứu về cổ tục học nước này. Luôn thể ông có dạy Đại học Bắc Kinh cũng như Bắc Bình. Nhờ nghiên cứu tại chỗ nên sách của ông là những tài liệu đáng tin cậy có thể dùng làm tiêu điểm đầu tiên cho những ai muốn đi sâu vào đề tài. ) 1 .- Tết Nguyên đánTrước hết là Tết. Cái Tết của ta rất lớn lao như chưa có đâu ăn Tết trọng thể bằng: kéo dài đến cả hai tháng. Tháng chạp sửa soạn còn tháng giêng thì ăn tết ở nhà và tới nay tuy đời sống bắt phải giản lược nó vào những chiều kích bé nhỏ, nhưng so với các nơi khác Tết vẫn còn to hơn, lâu hơn nhiều lắm. Có một điểm mới xuất hiện là bên Tàu, Đài Loan, Nhật đã bãi bỏ Tết để ăn tết Tây, trái lại bên Việt Nam mặc dù ở vào tình trạng thuộc địa thì lẽ ra phải bỏ Tết trước hết, vậy mà vẫn giữ Tết thì có nên xem đó như một dấu chỉ ngầm rằng xưa kia tổ tiên Việt đã đặt ra cái Tết? Đấy chỉ là một sự gợi ý mời các nhà nghiên cứu về sau, ở đây chúng tôi chỉ tìm hiểu ít nhiều nét riêng biệt của ba ngày tết. Gia đình tínhĐiều nhận xét đầu tiên nằm trong chữ “ tháng giêng ăn Tết ở nhà “ . Đây là nét đặc trưng, bởi vì Tết là lễ trọng thể nhất cũng như lâu dài nhất trong năm mà lại không mừng ở đền chùa cũng như không ở những công sở mà lại mừng ngay ở nhà thì điều đó biểu lộ gia đình là nền móng của xã hội, mà không có gì khác thay thế được kể cả tôn giáo lẫn chính quyền. Về phía chính quyền thì đã có mấy lễ chung rồi như hai lê “ tế Đế, tế Thường “ hay một hai kỷ niệm gì đó gọi là Quốc khánh thì nói chung dân vẫn tỏ ra hờ hững, họ để chú ý vào đó may ra được một phần mười, còn tất cả dốc trọn vào cái Tết phần lớn nằm trong khuôn khổ gia đình. Vì thế những chế độ ghét gia đình như cộng sản đều cố gắng quốc gia hóa cái Tết như thí dụ cho nghỉ ngày mồng một còn mồng hai thì dân phải thi đua trồng cây cho nhà nước. Đó là dùng võ lực để tước đoạt gia đình. Phía các tôn giáo cũng có tính cách kéo Tết ra khỏi gia đình ít là một phần. Không thành công vì chỉ có thể kéo ra khỏi gia đình để đem đến chỗ tinh thần hơn. Nhưng theo quan niệm Việt Nho thì tinh thần đã lại nằm sẵn ngay trong nhà rồi nên không có gì hơn mà phải ra ngoài nếu có ra chăng thì cũng là rất chóng vánh: đi lạy Phật, hay hái xăm một lát rồi về “ ăn Tết ở nhà “. Táo quânĐiều biểu lộ tinh thần gia đình thứ hai là tục Táo quân. Ngày 23 tháng Chạp ông Táo về trời lập bô về các việc đã xảy ra trong năm qua có liên hệ đến nước đến gia đình. Đấy là một tục lệ coi có vẻ dị đoan nhưng biểu lộ niềm tin vào Hoàng Thiên Thượng Đế của các dân Viễn Đông. Đêm 23 tháng chạp các gia đình thường tiễn ông Táo một bữa cơm thịnh soạn những món ăn toàn là đồ ngọt, cốt để cho khi lập bô ông dùng những lời lẽ ngọt ngào. Vì thế mâm chất bánh ngọt, mật, lại thêm một xị mật ong để bôi mép ông Táo! Lễ này do các ông phụ trách, còn các bà lo bếp núc không tham dự. Nhân dịp này ông Eberhard nhận xét về mối liên hệ giữa người và thần trong xã hội Viễn Đông. Tuy Thần có quyền phép hơn nhưng đó chỉ là sự khác về cấp bậc, chứ không về giống lo� |
doanvantiet | 21 January, 2012 19:54
MỜI XEM NHẢY DÙ
http://www.m2film.dk/fleggaard/trailer2.swf
MỜI XEM TÁO QUÂN 2012
http://www.vnmath.com/2012/01/xem-tao-quan-2012-full-hd-gap-nhau-cuoi.html
doanvantiet | 18 January, 2012 11:28
Chúc luôn sức khỏe, chúc AN KHANG.
doanvantiet | 18 January, 2012 11:25
Anh cua em ten la.
Nguyen-gia-Viet
Sinh nam 1942
Chuc vu cuoi cung la: Trung-uy
Truong chi nhanh truyen tin Tinh Hau nghia
Anh mat tich va khong con liec lac duoc voi gia dinh nua vao sang ngay 29/4/75.Sau do gia dinh em da tim kiem anh nhung...van khong thay tin tuc anh dau...gia dinh em khong con hy vong gi nua..
.Kinh xin Quy Vi , Quy Co Chu trong Tinh Hau Nghia (nay thuộc tỉnh Long An) co ai biet nhung gi lien quan den Anh Nguyen Gia Viet Xin cho gia dinh em biet tin
,Nguyen xin huong hon anh cua em co linh thieng thi phu ho cho em tim duoc noi an nghi cuoi cung cua anh em,de gia dinh dinh em huong khoi cho anh cua em .
Xin chan thanh cam on
Kinh thu.
Em.Thanh-Nga,Sanjose,California
E mail :Huan Vu <hn_vu@yahoo.com
doanvantiet | 17 January, 2012 23:53
VnExpress.net – 17-1-2012
Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch UBND Hải Phòng kiểm tra làm rõ đúng, sai và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong việc giao, sử dụng, thu hồi và tổ chức cưỡng chế đất đối với hộ gia đình ông Đoàn Văn Vươn. UBND TP Hải Phòng có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng.
|
|
|
5/1 trở thành ngày tồi tệ nhất trong lịch sử cưỡng chế tại Hải Phòng với 6 cảnh sát, bộ đội bị bắn trọng thương. Ảnh: Hà Anh. |
Trước đó ngày 5/1, khi hơn 100 cảnh sát, bộ đội cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, một số người đã gài mìn tự chế trong vườn, cầm súng hoa cải chống lại. Bốn cảnh sát và hai cán bộ huyện đội bị thương, trong số này có người đứng đầu công an huyện Tiên Lãng. Vụ nổ súng sáng 5/1 không chỉ tồi tệ nhất trong lịch sử cưỡng chế ở Hải Phòng mà còn làm chấn động dư luận cả nước.
Ngày 10/1, 4 bị can gồm Đoàn Văn Quý (46 tuổi), Đoàn Văn Vươn (49 tuổi), Đoàn Văn Sịnh (55 tuổi) và Đoàn Văn Vệ (38 tuổi) bị khởi tố, bắt tạm giam về tội giết người. Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) và Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ, song được toại ngoại và cho áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú.
|
|
|
Nhà ông Đoàn Văn Vươn và một số gia đình khác nằm ngoài khu vực cưỡng chế cũng bị san phẳng với lý do "đây là khu vực kẻ gây án từng ẩn nấp". Ảnh: Nguyễn Hưng. |
Tuy nhiên, bên cạnh việc vi phạm pháp luật của người dân, nhiều vấn đề cũng đã được đặt ra như tính pháp lý của quyết định thu hồi đất khai hoang, thẩm phán ký vào thỏa thuận rút đơn kiện, chính quyền phá hủy nhà ông Đoàn Văn Vươn ngoài khu vực cưỡng chế .
Nguyên Thứ trưởng Tài nguyên Môi trường Đặng Hùng Võ khẳng định, quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng với gia đình ông Vươn vừa trái luật vừa trái đạo lý, cố tình tước bỏ quyền lợi của người dân. Và ông cho biết, sẵn sàng đối chất với huyện Tiên Lãng về vấn đề này.
Hiện Bộ Công an, Bộ Tài nguyên Môi trường cũng đã vào cuộc.
Tiến Dũng
|
|
doanvantiet | 16 January, 2012 12:30
Vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng - Hải Phòng:
Chính quyền huyện, xã đều sai
Nguoilaodongonline-http://nld.com.vn
/Thứ Hai, 16/01/2012 00:05
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh nhận định như trên. Ông cho rằng TP Hải Phòng phải rút kinh nghiệm và xử lý nghiêm cán bộ
* Phóng viên: Thưa ông, cảm nhận của ông như thế nào khi theo dõi vụ việc thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng - Hải Phòng?
- Ông Lê Đức Anh: Tôi đang theo dõi sát vụ việc này nên có thể khẳng định chính quyền sai từ xã đến huyện. Điểm sai đầu tiên là để sự việc kéo dài quá nhiều năm mà không xử lý đến nơi đến chốn và thấu tình đạt lý. Người làm được, làm tốt đáng lẽ phải động viên, tạo điều kiện nhưng lại cố thu hồi của người ta, đó là cái sai thứ hai. Việc thu hồi còn trái pháp luật là cái sai thứ ba. Cái sai thứ tư là chính quyền cố tình vi phạm luật pháp, dồn người dân vào chân tường, làm họ uất ức đến mức phải chống lại.
Vụ việc ở Tiên Lãng là một bài học mà chính quyền cả nước phải rút kinh nghiệm. Cứ để kéo dài nhiều vụ sai phạm của chính quyền địa phương như vậy và xử lý không nghiêm cán bộ sai phạm thì sẽ làm mất lòng tin của nhân dân.
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Người Lao Động. Ảnh: Anh Trường
* Xin ông cho biết quan điểm khi ngôi nhà của gia đình ông Đoàn Văn Vươn không nằm trong phạm vi cưỡng chế nhưng vẫn bị san phẳng, dẫn đến việc họ không còn nơi cư ngụ?
- Chính quyền phải bồi thường cho gia đình ông Vươn. Cả gia đình họ mất nhiều năm mới có thành quả như hiện nay mà chính quyền lại muốn thu hồi, điều đó là không được! Nếu TP Hải Phòng và Trung ương không xử lý nghiêm việc này thì rất nguy hại.
* Việc phá nhà của dân về mặt đạo lý là không thể chấp nhận, thưa ông?
- Đây là hành vi bất chấp luật pháp. Ông Vươn sai thì cứ xử theo luật, còn chính quyền không thể có hành động như vậy.
* Ông nhìn nhận thế nào về tình hình sai phạm trong quản lý đất đai hiện nay?
- Tình trạng này không chỉ xảy ra ở Hải Phòng mà tôi đã nghe một số nơi cũng có chuyện tương tự. Vì vậy, không chỉ TP Hải Phòng rút kinh nghiệm mà cả nước cũng cần rút kinh nghiệm để không xảy ra những vụ việc tương tự.
* Khi còn công tác, ông đã từng xử lý cán bộ nào sai phạm trong quản lý đất đai giống như vụ việc ở huyện Tiên Lãng?
- Khi tôi còn công tác, đã có nhiều trường hợp cán bộ sai phạm bị xử lý nghiêm. Chính quyền sai trong phương án cán bộ còn phải thôi chức, chưa nói đến làm sai như vụ việc ở huyện Tiên Lãng.
| Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh nhấn mạnh: “Đang có hiện tượng rất xấu xảy ra ở nhiều địa phương là chính quyền mua rẻ đất của dân rồi bán đắt, trong đó có một phần chia nhau. Chưa kể đất nông nghiệp bị thu hồi làm khu đô thị, khu công nghiệp rồi để hoang hóa nhiều năm. Đây là tình trạng rất nghiêm trọng, cần được rút kinh nghiệm và xử lý nghiêm”. |
Thế Dũng thực hiện
doanvantiet | 16 January, 2012 12:26
TT - PV Tuổi Trẻ trở lại bãi bồi Tiên Lãng, Hải Phòng sau vụ chống cưỡng chế thu hồi đất đổ máu ngày 5-1. Đến mới biết ở đây có gần 1.000ha đất nuôi trồng thủy sản. Chuyện thu hồi đất của ông Đoàn Văn Vươn không cá biệt.
Không dám đầu tư nữa, chiều chiều ông Lương Văn Trong (phó chủ tịch liên chi hội nuôi trồng thủy sản huyện Tiên Lãng) đẩy thuyền đặt đó để đánh bắt vài con tôm cá cho đỡ nhớ đầm - Ảnh: Việt Dũng
Tiên Lãng nằm kẹp giữa sông Thái Bình và sông Văn Úc, hướng mặt ra vịnh Bắc bộ. Đây chính là vùng đất mới, nơi hàng trăm năm qua cư dân vẫn cặm cụi viết tiếp câu chuyện mở đất như cụ Nguyễn Công Trứ ngày xưa. Những cái tên xã tên làng Quyết Thắng, Tự Cường, Kiến Thiết, Khởi Nghĩa, Toàn Thắng, Đông - Nam - Tây - Bắc Hưng... như vẫn còn thơm mùi đất mới.
Đánh vật với biển
“Cam khổ lắm mấy chú ạ. Đánh vật với biển hơn 20 năm nay. Có lúc tưởng chừng bất lực, tinh thần đi xuống, nghĩ bụng là phải trả đất về với hoang hóa như ngày xưa...” - phó chủ tịch Liên chi hội nuôi trồng thủy sản huyện Tiên Lãng Lương Văn Trong vừa dẫn chúng tôi đi dọc bờ bao của khu đầm 30ha vừa tâm sự.
Nhà ông Trong ở xã Đông Hưng, năm 1992 ông được UBND huyện giao 30ha đất hoang hóa khu vực bãi bồi ngoài đê để nuôi trồng thủy sản. Năm bố con, anh em ông Trong bắt đầu chinh phục vũng bãi này bằng cách đắp đập, tạo nên những đầm, đìa nhỏ gần đê, rồi từ đó lấn dần ra biển.
Ông Trong kể: “Đắp bờ bao lần thứ nhất, chỉ ngủ qua đêm thì sáng mai thủy triều đã giật vỡ, lại công cốc. Lúc đó tôi thấy không có cây đước, cây bần, cây trang yểm trợ thì không ổn. Hàng chục năm liên tục, cứ vỡ lại đắp, cây bần cây đước mọc thành hàng chắn sóng, hết bờ gần thì tiến đến bờ xa, bây giờ mới thành hệ thống đầm, đìa thế này”.
Được chính quyền và dân địa phương coi như người tiên phong mở đất, ông Trong từng là cá nhân tiêu biểu được bầu đi gặp mặt Thủ tướng và đến năm 2002 ông vinh dự nhận bằng khen của Thủ tướng Phan Văn Khải.
Kế bên đầm ông Trong là đầm của ông Vũ Văn Dũng. Vừa cho vịt ăn, ông Dũng vừa kể câu chuyện của mình: “Tôi được giao đất năm 1993, quyết định giao đất của huyện lúc đó giao diện tích 6ha, nhưng gần 20 năm đánh vật với biển đến nay chỉ khai thác được 2,6ha thôi. Khu đầm của tôi sát cửa sông nên sóng đánh dữ lắm, thua”.
Chúng tôi hỏi: “Ông đầu tư mỗi năm bao nhiêu tiền, nuôi trồng những gì?”. “Mỗi năm đầu tư 30-50 triệu đồng trồng cây, đắp đê, giống má cộng lại khoảng 100 triệu. Năm được thì cỡ trăm triệu, năm kém thì vài ba chục triệu. Đủ nuôi sống sáu miệng ăn” - ông Dũng kể.
Trở lại cống Rộc (xã Vinh Quang), chúng tôi bắt chuyện với chủ đầm Nguyễn Văn Phao (kế bên khu đầm của ông Vươn). Ông Phao có 15ha đầm, được giao năm 1994. Ông là bộ đội phục viên. “Về thấy anh Vươn ra chiến đấu với biển năm 1993-1994, mình cũng quyết định dựng lều ngoài bờ đê để đẩy lùi con sóng”.
Ông Phao đang say sưa kể thì vợ ông - bà Phùng Thị Nhót - chen vào: “Lúc đó sợ lắm chú ạ. Ngoài đê nước biển mênh mông. Chỉ có ông Phao nhà tôi với anh Vươn. Nghĩ lại thấy sao ông ấy liều thế. Mình nằm trong đê mà lo nơm nớp”.
Ông Vũ Văn Dũng - một chủ đầm - và quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại của UBND huyện Tiên Lãng - Ảnh: V.Dũng
Không bồi thường
Bà Nhót kể bờ đê chìm nổi nhiều phen, nhưng sợ nhất là năm 1996, Tiên Lãng đón bão to, giữa đêm ông Phao xách đèn pin chạy vào đê, bão tan thì hai vợ chồng ôm nhau khóc vì “mất cả chì lẫn chài”, sóng gió san phẳng những gì làm trong hơn 10 mười năm mồ hôi nước mắt. “Năm đó huyện về đánh giá nhà tôi mất 100 triệu. Nhưng đó chỉ là tiền cá, tôm, vịt thôi chú. Họ đâu có tính công đắp bờ trong bờ ngoài, mỗi năm bỏ ra mấy chục triệu đồng để gia cố”.
Khó khăn qua dần, người dân bám bờ, bám biển không chịu khuất phục thiên tai. Dăm năm gần đây, khi nghề nuôi cua, nuôi cá bắt đầu đem lại lợi nhuận, những rặng bần, rặng đước sau gần hai thập kỷ đã trở thành tường bao che chắn cho các chủ đầm.
Đùng một cái, bắt đầu từ năm 2005, hàng loạt chủ đầm huyện Tiên Lãng nhận được quyết định thu hồi đất của UBND huyện. Trớ trêu, các quyết định thu hồi ấy đều có chung dòng chữ là bàn giao tất cả tài sản, công trình trên đất, không bồi thường.
Giọng đầy chua xót, ông Dũng tâm sự: “Họ giao quyết định thu hồi, cùng với yêu cầu dừng đầu tư, từ năm 2005 đến nay tôi không dám bỏ tiền ra nuôi trồng gì nữa, tiếc quá đành thả đàn vịt hơn ngàn con để nuôi sống gia đình”.
Khu đầm của ông Trong khi chưa nhận quyết định thu hồi, dịp gần tết thế này lúc nào cũng vài ba chục người làm thuê, đánh bắt cá, cua, tôm nhộn nhịp từ sáng đến tối. Còn bây giờ, ông Trong buồn bã chống thuyền đem mấy cây đèn dầu đi đặt đó bắt vài con tôm, con cá phục vụ bữa ăn hằng ngày của gia đình.
“Xót lắm chú ạ. Cả khu đầm 30ha nếu được đầu tư thì mỗi năm trúng cũng được vài trăm triệu, đóng thuế cho Nhà nước. Nhưng cầm cái quyết định ấy trên tay, ai dám bỏ tiền xuống nữa. Nhớ đầm, hằng đêm tôi lại ra căn chòi này ngủ...” - ông Trong bần thần nói với chúng tôi rồi chống cây sào đẩy thuyền đi đặt đó.
“Đình chỉ giải quyết khiếu nại?”
Cùng trên dải đất bồi ven biển, cùng một điều kiện làm ăn, nhưng các chủ đầm cho chúng tôi xem các quyết định giao đất, thu hồi đất với thời hạn rất khác nhau. Ông Phao 15ha, giao đất năm 1994, thời hạn 15 năm, quyết định thu hồi năm 2010. Ông Trong 30ha, giao năm 1992, thời hạn 15 năm, quyết định thu hồi năm 2007. Ông Dũng 6ha, giao năm 1993, thời hạn 12 năm, quyết định thu hồi năm 2005. Ông Vươn được giao 21ha năm 1993, thời hạn 17 năm, năm 1997 giao bổ sung 19,3ha, thời hạn 17 năm nhưng tính thời điểm giao từ năm 1993...
Trong khi đó, Luật đất đai và nghị định 64 quy định rõ đối với đất nuôi trồng thủy sản phải giao 20 năm; nếu giao trước năm 1993 thì thời hạn được tính từ năm 1993; nếu giao sau năm 1993 thì thời hạn được tính từ ngày giao đất.
Một điều rất lạ, khi huyện có quyết định thu hồi, các chủ đầm có đơn khiếu nại, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền đã ký các quyết định “đình chỉ giải quyết khiếu nại”. “Chủ tịch đình chỉ khiếu nại thì còn đi đâu nữa” - ông Dũng nói.
“Quan” nói một đằng, dân nói một nẻo
Gặp ông chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh, chúng tôi hỏi: “Tại sao thu hồi đất của dân lại không bồi thường?”, ông Khánh trả lời: “Vì hết thời hạn giao đất nên huyện thu hồi, trước đây các hộ dân đã hợp đồng với huyện như
“Quan” nói một đằng, dân nói một nẻo
Gặp ông chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh, chúng tôi hỏi: “Tại sao thu hồi đất của dân lại không bồi thường?”, ông Khánh trả lời: “Vì hết thời hạn giao đất nên huyện thu hồi, trước đây các hộ dân đã hợp đồng với huyện như
vậy”. Khi được đề nghị cung cấp các hợp đồng đó, ông Khánh không đáp ứng.
Chúng tôi hỏi tiếp: “Tại sao có quyết định giao đất lại còn có cả hợp đồng, đâu là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất?” thì ông Khánh không trả lời. Các chủ đầm mà chúng tôi gặp đều khẳng định ngoài các quyết định giao đất, không có bất cứ hợp đồng nào được họ ký với UBND huyện cả.
LÊ KIÊN - VIẾT THẮNG
“Quan” nói một đằng, dân nói một nẻo
Gặp ông chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh, chúng tôi hỏi: “Tại sao thu hồi đất của dân lại không bồi thường?”, ông Khánh trả lời: “Vì hết thời hạn giao đất nên huyện thu hồi, trước đây các hộ dân đã hợp đồng với huyện như
“Quan” nói một đằng, dân nói một nẻo
Gặp ông chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh, chúng tôi hỏi: “Tại sao thu hồi đất của dân lại không bồi thường?”, ông Khánh trả lời: “Vì hết thời hạn giao đất nên huyện thu hồi, trước đây các hộ dân đã hợp đồng với huyện như
vậy”. Khi được đề nghị cung cấp các hợp đồng đó, ông Khánh không đáp ứng.
Chúng tôi hỏi tiếp: “Tại sao có quyết định giao đất lại còn có cả hợp đồng, đâu là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất?” thì ông Khánh không trả lời. Các chủ đầm mà chúng tôi gặp đều khẳng định ngoài các quyết định giao đất, không có bất cứ hợp đồng nào được họ ký với UBND huyện cả.
LÊ KIÊN - VIẾT THẮNG
doanvantiet | 16 January, 2012 12:24
16/12/2012
Ai bị đẩy sang lề trái con đường? Câu chuyện thực hiện thu hồi đất bằng biện pháp cưỡng chế đã dẫn tới hệ quả chống cưỡng chế bằng biện pháp bạo lực xảy ra ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Như nhiều trường hợp thu hồi đất khác, trong vụ việc Tiên Lãng, hành động hình sự hóa thu hồi đất được khởi nguồn ít nhất từ những dấu hiệu thiếu minh bạch về thủ tục hành chính của chính quyền huyện.
Chủ trương giải tỏa và thu hồi đất của anh Đoàn Văn Vươn ở khu vực đầm thủy sản xã Vinh Quang là nhằm phục vụ cho dự án công ích xây dựng sân bay - như lời một quan chức Hải Phòng - hay còn ẩn chứa động cơ nào khác?
Hình như đã có sự mâu thuẫn rất lớn nếu chiếu theo nội dung trả lời của một quan chức khác - ông Ngô Ngọc Khánh, Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng - "Việc giao đầm cho ai là việc sau này, nay cứ giao cho xã Vinh Quang quản lý". Cũng liên quan đến vụ việc Tiên Lãng, đã có không ít dư luận nhân dân cho rằng chủ ý của huyện trong việc thu hồi đất đầm của gia đình anh Vươn và một số gia đình khác là nhằm "phân phối" cho những người khác, trong đó có cả người liên quan đến lãnh đạo xã Vinh Quang.
Trong bối cảnh nhập nhoạng kéo dài của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, không quá ngạc nhiên khi chính quyền huyện Tiên Lãng đã ra quyết định thu hồi đất trước thời hạn kết thúc việc cho thuê đất, kèm theo chính sách đền bù mập mờ mà đã dẫn đến tâm trạng bức xúc đỉnh điểm và phản ứng tự phát của gia đình anh Vươn.
Chỉ có sự kinh ngạc của công luận đã có cơ hội để bộc lộ khi thân phận từng con người được tiết lộ: Đoàn Văn Vươn không phải là người "không tốt" như một quan chức huyện Tiên Lãng khẳng định. Sau một chuỗi dồn đẩy không mệt mỏi của chính quyền(sở tại), "kẻ không tốt" trên đã bị hắt sang lề trái của con đường. Cái lề trái đó đương nhiên bị xem là phạm pháp, còn chủ thể của nó bị coi là kẻ thủ ác, giờ đây đang phải đối diện với cáo trạng về "hành vi giết người".
|
|
| Đầm nuôi trồng thuỷ sản của Đoàn Văn Vươn đã được bàn giao cho chủ hộ mới. |
Mùi vị của nhóm lợi ích?
Lẽ ra, trong bối cảnh một xã hội có đầy đủ tố chất công bằng, với việc giúp đỡ cộng đồng dân cư ven biển, Đoàn Văn Vươn đã phải được tuyên dương như một trong những người đi tiên phong về điều được gọi là "hài hòa lợi ích xã hội", thậm chí sẽ không quá nếu tên của anh được viết hoa - điều mà Vladimia Ilich Lenin đã dùng để nói về những người cộng sản chân chính.
Nhưng thật đáng tiếc, nhiều cơ hội viết hoa cho tên người đã bị bỏ lỡ không chỉ bởi tính quan liêu cố hữu của một số cấp chính quyền mà còn do một nguồn cơn sâu xa bất tận đang đe dọa xã hội: nhóm lợi ích. Nhóm lợi ích cũng là điều mà tất cả mọi người đều đang nói đến với một mối quan tâm sâu sắc, điều mà chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã dùng nguyên văn cụm từ này để phê phán, nhưng lại chưa có ai, chưa ở đâu mổ xẻ trực diện các nhóm lợi ích đó là ai, ở chỗ nào.
Vinh Quang chỉ là một xã nhỏ và "rất thuần". Tiên Lãng cũng chỉ là một huyện nhỏ nằm trong thành phố anh hùng Hải Phòng. Nhưng thái độ thu hồi đất quyết liệt đến mức sẵn sàng, và trong thực tế đã là như vậy, hành chính hóa để tiếp sau đó là hình sự hóa chiến dịch cưỡng chế, lại là một vấn đề không nhỏ chút nào.
Nói cách khác, vụ việc Tiên Lãng đã mang tầm cỡ quốc gia khi đây là nơi đầu tiên đã lần đầu tiên xảy ra hành động người dân chống cưỡng chế đất đai bằng các loại vũ khí có tính sát thương cao.
Như nhiều báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đánh giá, kết quả các cuộc giải quyết khiếu kiện đất đai từ những năm 2005-2006 cho đến nay đã cho thấy tuyệt đại đa số trường hợp khiếu kiện đông người và kéo dài, trong đó có những trường hợp phản ứng và chống cưỡng chế, đều xuất phát từ nguyên nhân đền bù không thỏa đáng, không bảo đảm tái định cư, cưỡng chế sai pháp luật... Nhưng hiếm có hiện tượng chống cưỡng chế đối với những dự án công ích.
Vậy tại sao một con người có cống hiến cho công ích xã hội như Đoàn Văn Vươn lại chống cự mãnh liệt chủ trương thu hồi đất của chính quyền?
Nếu quả thực chủ trương thu hồi đất là dùng cho dự án công ích, lẽ nào đã xảy ra sự đối kháng giữa hai cái thiện trong cùng tư tưởng của một con người?
Tuy vậy, thực tiễn lại thường khác xa những ngôn từ bóng bẩy. Với những gì đã và đang lộ dần ra, người dân huyện Tiên Lãng đang không nhìn thấy bóng dáng của một dự án công ích nào cả.
Thay vào đó là mùi vị của nhóm lợi ích.
Xét ra, với những hậu quả thật sự trầm trọng trong vụ việc này, vụ án khởi tố "giết người và chống người thi hành công vụ" cần được "tái thẩm", và nếu cần thiết thì phải được "giám đốc thẩm".
Điều đó cũng có nghĩa là tính chất nghiêm trọng của vụ việc đã vượt khỏi tầm giải quyết của chính UBND huyện Tiên Lãng và thậm chí cả UBND thành phố Hải Phòng.
Với hành động "tức nước..." của người bị thu hồi đất, cùng những dấu hiệu thiếu minh bạch ít nhất về thủ tục hành chính đối với đất thu hồi, một bài học cần được rút ra là không chỉ trường hợp anh Đoàn Văn Vươn mà cả chính quyền UBND huyện Tiên Lãng cần được các cấp có thẩm quyền ở trung ương kiểm tra, thanh tra và xem xét thấu đáo về trách nhiệm đối với những người có trách nhiệm.
THẦY TRÒ GẶP LẠI
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa | Su |
| 1 | ||||||
| 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 |
| 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 |
| 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 |
| 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 |
| 30 | 31 | |||||
